Tư vấn
(068) 3874403
Lượt truy cập
2078398
Đa dạng sinh học thực vật
     Năm 2002, nghiên cứu do Phân Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng II đã ghi nhận và xây dựng danh lục thực vật rừng của VQG Núi Chúa bao gồm 1.265 loài thực vật bậc cao có mạch trên cạn, nằm trong 79 bộ, 147 họ và 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (Xem bảng 4.1). Do nằm ở gần cuối dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ nên hệ động và thực vật của VQG Núi Chúa, nói chung, có quan hệ chặt chẽ với hệ động - thực vật của dãy Trường Sơn Nam, của miền Đông Nam Bộ, cũng như của Việt Nam. Riêng về quần hệ thực vật của VQG Núi Chúa cũng có sự ảnh hưởng của 4 nhân tố di cư của khu hệ thực vật Châu Á như:
- Từ phía Nam lên: Là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malaixia - Indonexia với đặc trưng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae).
- Từ phía Tây và Tây-Nam sang: Là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật; An Độ - Miến Điện với các họ đặc trưng: Họ Tử vi (Lythraceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Tung (Datiscaceae), họ Gòn (Bombacaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) v.v... Những họ này có hầu hết các loài cây rụng lá trong mùa khô, hình thành các kiểu rừng kín nửa rụng lá và rựng lá ở việt Nam.

7.bmp mk.bmp
Hình 1: Thực vật phụ sinh (bullbophullum sp.)    Hình 2: Mã kỳ(Styphellia malayanis var. angustiforlia) ở đỉnh Núi Ông

- Từ phía Tây Bắc xuống : Là luồng thực vật á nhiệt đới và ôn đới của khu hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Qúy Châu Trung Quốc với các họ đặc trưng như Họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Kim giao (Podocarpaceae), họ Gấm (Gnetaceae), họ Chè (Theraceae), họ Tích (Aceraceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae) v.v Hầu hết loài cây trong các họ này là cây lá rộng thường xanh có nguồn gốc của hệ thực vật á nhiệt đới và ôn đới.
- Từ hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa xuống với các họ đặc trưng: Họ Đậu (Fabaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Xoài (Anacardiaceae) v.v..

23.bmp

* Thực vật quý hiếm: Đã ghi nhận được 35 loài quý hiếm (theo cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của sách đỏ Việt Nam năm 2000, Nghị định 48 CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/4/2002 và Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên quốc tế - TUCN), thuộc 13 họ thực vật khác nhau, trong đó đáng chú ý 2 họ có số loài quý hiếm nhiều là Họ Fabaceae: 10 loài và 3 Họ Hạt trần: 11 loài, chúng là những thực vật thuộc hệ thực vật ôn đới Hymalaya- Vân Nam Quý Châu Trung Quốc. Đáng chú ý là đã ghi nhận được 5 loài đặc hữu
Đặc trưng của thảm thực vật trên các vùng sinh thái: Xác định vùng khô hạn (arid region) và vùng bán khô hạn (semi-arid region) chủ yếu dựa vào chỉ số khô hạn (aridity indice) và dựa vào các dữ liệu về đất, địa hình và thảm thực vật. Độ khô hạn sinh khí hậu phụ thuộc vào lượng nước nhận được từ mưa và lượng nước mất đi do bốc hơi và thủy xuất: độ khô hạn tăng lên khi vũ lượng giảm và khi độ bốc hơi tăng lên. Vì vậy, giá trị của tỷ lệ P/ETP (trong đó P là vũ lượng trung bình hằng năm và ETP là lượng bốc hơi trung bình hằng năm) sẽ được dùng để xác định giữa vùng khô hạn và bán khô hạn.
      Tỷ lệ P/ETP thường được dùng hơn là hiệu số P – ETP vì hiệu số này chỉ tham chiếu đến lượng nước và có thể giống nhau ở các điều kiện khí hậu khác nhau (thí dụ P – ETP = 400 có thể là từ 1000 – 600, hay 800 – 400, hay 600 – 200, vv). Mặt khác, trong vùng khô hạn và bán khô hạn, tỷ lệ P/ETP diễn đạt độ khô hạn tốt hơn, bởi vì nó cho cùng một giá trị cho tất cả các điều kiện khí hậu, nơi mà lượng nước mất đi tỷ lệ với lượng mưa nhận được. Độ khô hạn gia tăng tỷ lệ nghịch với tỷ số này. Hơn nửa, tỷ lệ này chính xác trong những vùng khí hậu có mùa tương phản cao, vì nó đại diện tốt cho tỷ lệ ETR/ETM (trong đó ETR là lượng bốc hơi thực sự của hệ thực vật – đất, ETM là lượng bốc hơi cực đại không xét đến sức giữ nước) được dùng rộng rãi để xác định năng suất sinh khối. Trong những vùng này, vũ lượng hằng năm (P) có thể đại diện thích hợp cho ETR và lượng bốc hơi (ETP) gần với ETM, là giới hạn trên của nó.
       Tỷ lệ P/ETP cũng được FAO sử dụng trong việc nghiên cứu mức độ sa mạc hóa (Riquier and Rossetti, 1976) và cũng được sử dụng trong việc xác định các vùng sinh khí hậu. Căn cứ trên tỷ lệ này có thể xác định 4 mức độ khô hạn khác nhau có liên quan đến các yếu tố địa lý thường được các nhà khí hậu học và sinh học sử dụng: 1) Vùng khô kiệt (hyper-arid zone) (P/ETP < 0.03) Đây là vùng khí hậu sa mạc thực sự, có lượng mưa rất thấp và bất thường, những vùng này không có các loài thực vật thường niên. 2) Vùng khô hạn (arid zone) (0.03 < P/ETP < 0.20) Thực vật vùng này mọc rãi rác hay thành từng cụm, cấu trúc bao gồm những cây bụi, cây gỗ nhỏ, cây thân mộng, cây bụi có gai hay không lá. Đặc trưng của vùng này là lượng mưa hằng năm thay đổi từ 80-150 mm và từ 200-350 mm. Biến động vũ lượng giữa các mùa mưa là từ 50 – 100 %. 3) Vùng bán khô hạn (semi-arid zone) (0.20 < P/ETP < 0.50) Đây được xem như là vùng chuyển tiếp, cấu trúc bao gồm những cây bụi nhiệt đới và savan. Lượng mưa hằng năm thay đổi từ 300-400 mm và từ 700-800mm. Biến động vũ lượng giữa các mùa mưa là từ 25% và 50 %.. 4) Vùng bán ẩm (sub-humid zone) (0.50 < P/ETP < 0.75) Vùng này bao gồm các svan nhiệt đới, rừng cây bụi. Biến động vũ lượng giữa các mùa mưa ít hơn 25%.
        Dựa trên đặc điểm khác biệt cơ bản của yếu tố khí hậu vùng có thể nhận biết được 2 vùng sinh thái chính trongVQG Núi Chúa. Hai vùng này có sự khác nhau khá rõ rệt về địa hình, khí hậu, tổ thành, cấu trúc, thành phần loài cây ưu thế, đặc hữu và quí hiếm.
        Như vậy, căn cứ vào số liệu khí tượng của khu vực, với tỷ lệ P/ETP = 706/1827 = 0,39 và lượng mưa hằng năm P từ 700-800 mm và biến động vũ lượng giữa các năm ít hơn 25% có thể xếp vùng khô hạn Núi Chúa thuộc vùng bán khô hạn.

Các tin khác
Mức thu phí thăm quan mới tại các điểm thăm quan thuộc VQG Núi Chúa
Thực hiện Quyết định số 61/2017/QĐ-UBND Ngày 8/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thăm quan tại Vườn quốc gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận. Này VQG Núi Chúa thông báo đến các đơn vị, cá nhân biết về mức thu phí tham quan mới và thời gian thu tại...
Sản phẩm của cộng đồng Raglai Vườn quốc gia Núi Chúa
Sản phẩm do chính cộng đồng người dân Raglai sinh sống tại Vườn quốc gia Núi Chúa tìm kiếm và tạo ra các sản phẩm nhằm góp phần tạo sinh kế cho người dân tộc Raglai và giảm tác động vào tài nguyên môi trường
Tour du lịch sinh thái đi xem rùa đẻ tại Trạm bảo tồn rùa biển Bãi Thịt
Chương trình Tour không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm góp phần tích cực trong việc giáo dục bảo tồn loài rùa biển, nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương tham gia cứu hộ, bảo vệ rùa biển tại Vườn quốc gia Núi Chúa
Phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận
Phối hợp với Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các Khu bảo tồn biển Việt Nam( LMPA), Quỹ bảo tồn động vật hoang dã WWF Việt Nam xây dựng Định hướng phát triển du lịch bền vững VQGNC, có sự tham gia đóng góp của các ban ngành và các bên liên quan trong tỉnh